Home / Blog tin tức mua sắm / Tìm hiểu về văn hóa, hoa văn rồng thời Lý

Tìm hiểu về văn hóa, hoa văn rồng thời Lý

Rồng Việt Nam từ khởi nguồn đến hiện đại

 

Theo GS sử học Lê Văn Lan, hình tượng rồng Việt Nam mỗi thời mang dáng dấp riêng. Thời Lý rồng hồn nhiên, đến thời Trần được thổi vào vẻ mạnh khỏe, thời Lê thì quan liêu hách dịch và thời Nguyễn trở nên cứng nhắc.
Ngày cuối năm Tân Mão, trong căn nhà nhỏ trên phố Nguyễn Văn Tố (Hà Nội), GS sử học Lê Văn Lan say sưa nói về con rồng, biểu tượng của năm mới Nhâm Thìn. Theo ông, hiện có rất nhiều quan điểm và cái nhìn về rồng ở Việt Nam. Tuy nhiên, để tìm hiểu được sâu sắc và tổng quan về con vật linh thiêng này cần bắt đầu từ ngôn ngữ học.

Rồng bắt đầu bằng phụ âm rung là “r”. Từ “rồng” về mặt cấu trúc ngôn ngữ học là sự đơn âm tiết hóa (tức là làm cho từ gốc đa âm tiết của tiếng Việt cổ thành đơn âm) và được bảo lưu ở vùng Tây Nguyên. Ở đó người ta chỉ con sông là Krông, có 2 phụ âm kép K và R, nguyên âm “ông”. Ví dụ Đăk – Krông nghĩa là nước sông; Krông Ana là thủy điện xây trên sông Ana. “Krông” khi đơn âm tiết hóa và bảo lưu lại phần phụ âm rung, cộng nguyên âm “ông” thì chính là “rồng”.

Hình tượng rồng thời Lý với thân tạo hình dòng sông.

“Do đó rồng có nguồn gốc tượng hình của con sông”, GS Lan khẳng định và dẫn chứng thêm, nếu leo lên cao chụp lại các khúc uốn của con sông thì đó hoàn toàn là hình ảnh con rồng. Các biểu tượng rồng nghìn năm hiện nay cũng chính là hình ảnh dòng sông. Từ xa xưa, khi nào cần nước thì người dân cầu khấn rồng. Rồng sẽ phun nước cung cấp nguồn sống cho mùa màng. Rồng là một vị phúc thần.

“Nhiều người cho rằng rồng chỉ gắn với vua chúa. Rồng là vua với các từ như long nhan (mặt vua), long thể (người vua), long sàng (giường vua)… Nhưng đó là một suy nghĩ hạn chế bởi rồng không chỉ gắn bó mà còn đồng nhất, đùa cợt, chơi đùa với dân”, GS Lan nói.

Ông dẫn chứng, nếu tìm các mảng điêu khắc đình làng, nơi chứa tinh hoa nghệ thuật điêu khắc thế kỷ 17-19 sẽ gặp một loạt hình tượng rồng gắn bó với dân. Có ông cụ rồng đeo kính dạy học cho lũ rồng con, có ổ rồng trong đó con rồng mẹ đang quấn quít cùng rồng con. Đặc biệt có cả cảnh các cô gái làng tắm trần nhưng ở thế tắm chung với rồng, vuốt râu rồng, thậm chí cưỡi lưng rồng…

GS Lan cho hay, trong văn hóa học, nơi nào là xuất phát của văn hóa thì gọi là “bình phát”, còn nơi tiếp nhận gọi là “bình chứa”. Ở Việt Nam lưu hành ý kiến văn hóa Việt thường xuyên là bình chứa, nhưng thực chất có thời kỳ chúng ta là bình phát, có sự giao lưu hai chiều.

Cũng trong ngôn ngữ học, âm rung là ngôn ngữ phương Nam, còn Hán ngữ không có phụ âm đầu rung. Chính vì thế nên Trung Hoa biến tất cả âm rung thành âm lưỡi, âm “l”. Ví dụ trong xướng âm chúng ta có đồ, rê, mi, pha, son, Trung Hoa lại biến thành tồ, lê, mi, pha, xô. “Rê” thành “lê”, đó là quy luật biến âm rung thành âm lưỡi.

“Việc rồng biến thành long là hoàn toàn đúng quy luật. Vì Trung Quốc có thời đã lấy rồng từ Việt Nam và biến thành long”, GS Lan nói và khẳng định Việt Nam nên tự hào là khởi hình cho rồng Trung Hoa, táp vào các đặc điểm hình thể để tạo nên long.

Vị giáo sư sử học phân tích thêm, con rồng gốc Trung Hoa trên vùng Hoàng Hà, từ Đường, Lục triều, Hán thì chính là sư tử. Về sau, cùng với sự bành trướng xuống phía Nam, gặp Dương Tử giang đã tiếp nhận chữ “giang”, âm viết là “công” chính là âm “K” trong từ Việt cổ “Krông” – một kênh tiếp nhận thêm các yếu tố rồng của Việt Nam. Từ thân là con thú sư tử thành thân dòng sông, thân rắn. Như vậy ít nhất một nửa rồng Trung Quốc là của Việt Nam.

“Ở Việt Nam còn tồn tại tư duy đèn xếp, gấp hết tất cả nếp văn hóa, thời gian lại và gọi chung là rồng Việt Nam. Nhưng ta có rồng Lý, rồng Trần, đến Lê, Nguyễn”, GS Lan nói.

GS Lê Văn Lan khẳng định, Việt Nam là khởi nguồn của hình tượng rồng thể hiện rõ trong ngôn ngữ học. Ảnh: Hoàng Thùy.
Rồng thời Lý uyển chuyển, thậm chí hồn nhiên, giữ nguyên khởi hình là con rắn. Nhiều người thấy hình vẽ thu nhỏ trên con tem, trông rất giống con giun thì gọi là rồng giun. Tuy nhiên, trước đây Viện trưởng Viện bảo tàng Mỹ thuật đầu tiên, họa sĩ Nguyễn Đỗ Cung, thấy ai gọi là rồng giun thì có thể ngất vì giận.

“Đó là rồng rắn, con giun thì hèn hơn rắn nhiều và không thể uốn thân lượn sóng được. Con rồng này còn được lưu giữ ở trong những câu đồng dao như trò chơi dân gian rồng rắn lên mây”, GS Lan cho hay.

Hình ảnh con rồng thời Lý thích hợp với chính sách nhà Lý lúc bấy giờ, mềm mại, uyển chuyển, xuất hiện những ông vua hiền. Cũng từ thời Lý, hình tượng rồng vua – rồng dân cũng có nét phân biệt, rồng vua có 5 móng, còn rồng dân chỉ 4 móng.

Thời Trần dùng nguyên hình ảnh rồng thời Lý nhưng táp vào đó hào khí Đông A. Hào khí thời Trần thấm vào con rồng khiến nó trở nên mập mạp. Nếu rồng Lý bị nhầm với giun thì rồng Trần không thể nhầm được vì nó khỏe mạnh, lực lưỡng.

Rồng Lê lại bị ảnh hưởng dội ngược từ Trung Hoa. Hình ảnh con rồng thời này vẫn còn lưu giữ trong điện Kính Thiên, đó là con rồng do vua Lê Thánh Tông cho làm vào ngày 15/8/1467 (âm lịch). Tạo hình con vật này hợp với thời phong kiến thịnh trị. Nó bệ vệ oai nghi trườn từ điện Kính Thiên xuống, dương vây dương vảy, tỏ vẻ nghênh ngáo đắc ý.

Nếu rồng thời Lý còn chân chim ưng xòe ra rất hồn nhiên vì gắn với tự nhiên thì rồng trong điện Kính Thiên thò tay ra quặp lấy râu, vuốt râu. Rồng thời Lê vì thế trở thành quan liêu, dương dương tự đắc. Nó không còn hồn nhiên như thời Lý, khỏe mạnh như thời Trần mà trở thành một thế lực ung dung tự tại, nghênh ngang, hách dịch.

Đến rồng thời Nguyễn thì hoàn toàn xơ cứng, thể hiện rõ bước thoái trào của chế độ phong kiến. Nó chịu ảnh hưởng ngược của rồng Trung Hoa, trở nên cứng ngắc, đầy vẻ dọa nạt giống con rồng thời Minh, Thanh. Rồng ở cung đình, đền miếu lúc này như một thế lực đe dọa chứ không đùa giỡn với mọi người. Nó đi qua bước hồn nhiên thời Lý, khỏe mạnh thời Trần, quan liêu thời Lê và trở nên cứng nhắc thời Nguyễn.

“Ngày nay, trong thị hiếu của thời đại mới thì hình tượng rồng càng phức tạp, lòe loẹt, chứ không sâu sắc mang ý nghĩa như ngày xưa. Đặc biệt khi ta đang muốn ‘hóa rồng’ thì cần chú ý chọn mô hình nào để mà ‘hóa”, GS Lê Văn Lan nói.

Tản mạn về hình tượng rắn trong văn hóa Việt Nam

Rắn là hình tượng khá quen thuộc trong đời sống văn hóa người Việt Nam và nhiều cộng đồng quốc gia, dân tộc trên thế giới. Điểm đáng chú ý trong hình tượng rắn của người Việt Nam là xuất hiện rất đa dạng với những biến thể khác nhau, như rắn, trăn, chằn tinh, giao long, thuồng luồng, thậm chí là rồng…
Ở mỗi một hình thức thể hiện của rắn, hoặc với mỗi một biến thể, hình tượng rắn đều mang những ý nghĩa nhất định. Có thể tìm thấy điều này trong các câu truyện cổ tích, huyền thoại, phong tục tập quán, văn học nghệ thuật, mỹ thuật, tạo hình.v.v…

Trước hết, rắn với biến thể là trăn có thể tìm thấy khá nhiều trong các câu chuyện cổ tích. Trong truyện cổ tích “Thạch Sanh”, mặc dù có nhiều dị bản khác nhau nhưng đều kể về một con trăn tinh (hay chằn tinh) tu luyện lâu năm chuyên đi hại người. Mỗi năm, dân làng phải nộp cho chằn tinh một mạng người, song cuối cùng nó bị tiêu diệt bởi chàng Thạch Sanh hiền lành, dũng cảm. Dưới hình dạng của trăn hay chằn tinh, rắn thường biểu trưng cho thế lực cái ác, phản ánh ước nguyện của dân chúng trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện và cái ác. Trong đó người hiền lành, tốt bụng sẽ gặp điều may mắn, những kẻ độc ác, gian dối thì bị trừng trị. Không chỉ để lại ấn tượng sâu sắc trong lĩnh vực văn học, tích chuyện Thạch Sanh đánh chằn tinh hiện còn được lưu lại trong dòng tranh dân gian Đông Hồ.

Còn trong truyện “Rể trăn”, lại xuất hiện hai con trăn hoàn toàn đối lập nhau: một con là hiện thân của chàng trai có diện mạo đẹp đẽ, hiền lành, tốt bụng, con còn lại có hình hài gớm giếc chuyên đi hại người. Con trăn hiền lành biết giúp đỡ người khác dễ dàng nhận được tình cảm yêu mến của con người, trong khi con trăn chuyên đi hại người bị nhận kết cục tồi tệ là cái chết.

Trong huyền thoại Thần Tản Viên, rắn xuất hiện trong vai trò là con trai vua thủy tề bị trẻ trăn trâu đánh chết vứt bên bờ sông được một chàng trai tốt bụng cứu sống sau rắn quay lại hậu tạ… Rắn trong huyền thoại Thần Tản Viên là mô tuýp phổ biến phản ánh tâm thức tín ngưỡng của cư dân nông nghiệp. Rắn ở đây được đồng nghĩa với các vị thần nước, thần sông, thần suối.

Trong truyền thuyết “Sơn Tinh, Thủy Tinh”, rắn lại xuất hiện dưới hình hài là những con thủy quái hay còn gọi là thuồng luồng – đại diện cho thế lực siêu nhiên mang theo những hiểm họa đe dọa mùa màng và sự sinh tồn của con người. Sự chiến thắng của Sơn Tinh trong truyện phản ánh tín ngưỡng nguồn nước và ước vọng ngàn đời của các cư dân nông nghiệp lúa nước…

Rắn xuất hiện với biến thể là giao long có thể tìm thấy trong truyền thuyết Lạc Long Quân, huyền thoại Linh Lang Vương… Trong hình hài là giao long, rắn dường như được phủ lên một lớp văn hóa muộn, bởi nó đã bước đầu nhuốm màu sắc phong kiến. Mặc dầu những biểu hiện bề ngoài của giao long chưa có cái uy nghiêm, oai phong của rồng, song nó đang từng bước tiến tới những ý nghĩa biểu trưng của sức mạnh thần quyền và vương quyền. Có ý kiến cho rằng giao long mang nhiều ý nghĩa với tục thờ cúng tổ tiên, liên quan đến tục người Việt cổ thường xăm mình khi xuống nước để không bị giao long ăn thịt, lâu dần coi đó là tổ tiên. Nhiều công trình nghiên cứu đã xác định, truyền thuyết Lạc long Quân vào hồi thế kỷ XIII đã được một số nhà nho sưu tầm và đưa vào thư tịch, với mong muốn lưu giữ muôn đời và nhắc nhở con cháu về nguồn gốc xa xưa này…Hình ảnh của rắn thực sự mang màu sắc phong kiến, đồng nhất với hình ảnh của vương quyền khi nó gắn liền với hình ảnh của rồng. Rắn là con vật có thật trong tự nhiên song nó là hình mẫu khởi thủy của rồng (bởi vì rồng chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng). Không ít các nhà nghiên cứu đã khẳng định mối liên hệ đặc biệt này giữa rắn và rồng.

Ở lĩnh vực mỹ thuật, tạo hình, theo nhà nghiên cứu văn học dân gian Chu Quang Trứ, rồng bắt nguồn từ rắn. Các nhà nghiên cứu Trương Chính và Ðặng Ðức Siêu nhận định: Rồng Lý – Trần là một con rắn dài, quấn làm nhiều khúc, đầu không sừng, không râu. Còn GS. Trần Quốc Vượng thì cho rằng: Rồng Thăng Long Ðại Việt là loại Rồng – Rắn, mình tròn trịa và thanh tú, với nhiều khúc uốn lượn nhịp nhàng, là loài có vẩy, ở nước và cũng tượng trưng cho nước, cho mây mưa, vốn là cái nhân tố bận tâm hàng đầu của người dân trồng lúa nước.

Ngoài ra còn có những biến thể khác nữa của rắn. Đó là truyền thuyết về Ông cộc, Ông dài gắn liền với tín ngưỡng thờ rắn ở một số vùng Bắc Giang, Hà Nam. Hoặc trong tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt, rắn xuất hiện với hình ảnh của đôi Thanh xà và Bạch xà nằm vắt ngang trên chính điện (Phủ Dầy), được gọi là Ông lốt. Trong đồ mã cúng Mẫu bao giờ cũng có rắn ba đầu hoặc rắn Tam đầu cửu vĩ… Có ý kiến cho rằng rắn ba đầu chính là mô phỏng rắn thần Naga của Ấn Độ do những ảnh hưởng giao thoa văn hóa giữa người Việt với người Chăm trong quá trình lịch sử…

Một thống kê gần đây cho biết: trong bộ “Kho tàng cổ tích Việt Nam” của Nguyễn Đổng Chi, trong tổng số 200 chuyện thì đã có 11 chuyện đề cập đến hình tượng rắn hoặc các biến thể của rắn như giao long, thuồng luồng, chằn tinh… trong đó có những chuyện ca ngợi sự giúp đỡ của rắn đối với con người, một số truyện khác lại nói đến việc rắn hại người. Qua đó có thể thấy rằng rắn có được một vị trí khá quan trọng đời sống văn hóa tâm thức của người dân Việt Nam.

Chi tiết Rồng thời Lý

Từ xa xưa con Rồng đã có trong tâm thức người Việt, nhiều huyền thoại về rồng, với biểu hiện linh thiêng, về phát sinh phát triển, như chúng ta từng tự hào là con cháu của Lạc Hồng (Lạc Long Quân và Âu Cơ). Rồng gắn bó trong văn hoá tín ngưỡng dân gian. Rồng là biểu tượng vật linh, mang lại mưa thuận gió hoà, là mong cầu, ước muốn của đời sống cư dân nông nghiệp lúa nước. Nó được phát huy sáng tạo trong nghệ thuật vương triều, đình, đền, chùa truyền thống, mãi mãi đậm sâu trong tiềm thức nhân dân.

Thăng Long nơi Rồng vàng xuất hiện. Hình tượng con Rồng Lý sáng tạo còn là bảo lưu của con rồng dân gian vốn có lâu đời của dân tộc. Nhà Lý đã duy trì gìn giữ những biểu tượng của Rồng truyền thống, và đưa lại ý nghĩa mới của vương quyền. Hình tượng Rồng thời Lý trở thành biểu tượng cao quý – quyền uy của Vương quyền và linh thiêng của Thần quyền (với đạo Phật là Quốc giáo).

Hình tượng Rồng chỉ thực sự phát triển từ triều Lý (thế kỷ XI-XII), mở đầu cho nền văn minh Đại Việt sau ngàn năm Bắc thuộc. Đây là thời kỳ đạo phật được phát triển mạnh, tinh thần tự cường dân tộc luôn được đề cao, nhiều công trình văn hoá nghệ thuật được xây dựng, nghệ thuật trang trí hoa văn cũng phong phú đa dạng. Hình tượng Rồng mang tính linh thiêng, cao quý. Đường nét mềm mại, tinh tế, bố cục hoàn chỉnh nhất quán, mang rõ phong cách.

Về Hình, khối, Hình dáng Rồng Lý: phần lớn trong  chạm khắc không quá sâu (tức là khối không làm  nổi cao), mà chủ yếu chú ý nhiều đến hình dáng, mang nhiều chất hoạ. Do vậy khi in rập giấy dó lên các chạm khắc thực hiện được tương đối thuận lợi. Bố cục Hình Rồng Lý: được quy vào trong các loại hình học. Chẳng hạn:  Bố cục trong hình Chữ nhật: như các bức chạm đá “Hình Rồng chầu lá đề, đăng đối hai bên là hình các Tiên nữ, nhạc công múa hát” (đế kê chân cột chùa Phật Tích- năm 1057). Các “Hình Rồng chầu lá Đề”, “ hình rồng trên bệ” (tượng Phật, chùa Phật Tích – năm 1066, xã Phật Tích-Tiên Sơn-Bắc Ninh). “Hình rồng trên vách đố” bằng đá (Tháp Chương Sơn – năm 1117), hoặc “Hình rồng trên đồ đất nung “ phát hiện ở khu vực thành Thăng Long. Hình Rồng trong bố cục hình tròn: như chạm đá “Hình Rồng và hoa dây” (Tháp Chương Sơn – năm 1118, Yên Lợi- ý Yên- Nam Định). Hình Rồng trong bố cục hình bán nguyệt: “Các hình Rồng chầu”, (chạm đá – năm 1118, trong trán bia Chùa Long Đội – Đọi Sơn -Duy Tiên – Hà Nam). Hình Rồng trong bố cục hình lá Đề: “Hình Rồng chầu dâng Ngọc”, Gốm (phát hiện ở  khu vực thành Thăng Long Hà Nội).  Hình Rồng trong bố cục hình cánh hoa Sen: “Hình Rồng trong các cánh Liên hoa” bệ tượng (Tháp Chương Sơn – năm 1117), hoặc “Hình rồng trên các cánh hoa Sen” chạm ở mặt trụ đá kê chân cột ở một số công trình kiến trúc Lý mà Khảo cổ học phát hiện được ở khu Hoàng Thành Thăng Long…

Đặc điểm Hình tượng Rồng thời Lý: mình Rồng kéo dài, thể hiện theo lối nhìn nghiêng. Đầu Rồng với cổ ngước chếch lên cao. Trên lông mày Rồng kết xoắn giống hình số 3 ngửa (theo nhãn vòng Kim cô nhà Phật), và trước trán kết xoắn hình chữ S đứng (ký hiệu tựa hình chớp của hiện tượng tự nhiên ý niệm cổ về  uy lực của Phật Pháp Lôi – Pháp Điện (sấm chớp). Sau gáy rồng, từ hai bên dưới mang tai có dải bờm nhiều tua kết vào nhau bay thả uốn lượn vút nhọn ra phía sau. Chòm râu dưới cằm rồng cũng kết xoắn uốn lượn tương tự phía dưới, nhưng nhỏ và ngắn hơn. Quanh đầu có những viên ngọc lơ lửng và thường có mây quấn. Miệng rồng há rộng để hứng viên ngọc báu. Trên hai hàm có răng nhọn, hai nanh cuối hàm kéo dài uốn cong qua mép liền sát mũi. Mũi Rồng cũng được kéo dài thành một mào hình vòi. Mào của Rồng cũng hơi uốn khúc và chung quanh có viền kiểu ngọn lửa. Môi dưới của Rồng ngắn, còn lưỡi lại rất dài. Từ hàm dưới lưỡi vươn ra uốn lượn  sóng để đỡ lấy viên ngọc đang lơ lửng. Mắt Rồng to tròn và  hơi lồi. Cũng còn có loại đầu Rồng nữa là: cổ uốn xuống gấp khúc rồi ngược lên (trông cổ Rồng như rụt lại) – như đôi rồng chạm trên mặt trán bia Bia chùa Báo Ân (Thanh Hoá). Hoặc Rồng đàn nối đuôi nhau trên thành bậc chùa Sùng Nghiêm Diên Khánh.

About haianh2313

Check Also

Takamine – Thương hiệu guitar hàng đầu tại Nhật Bản

Là một thương hiệu đàn guitar lâu đời của Nhật Bản, Guitar Takamine hiện nay được xem …

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *